tam-than-phan-liet-ypmvn

 

 

 

KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TÂM THẦN PHÂN LIỆT (TTPL)

 

Tâm thần phân liệt là một rối loạn tâm thần nặng, nguyên nhân chưa được biết rõ, thường có tiến triển từ từ, có xu hướng tiến triển thành mạn tính. Rối loạn có bệnh cảnh lâm sàng biểu hiện bằng các triệu chứng dương tính và âm tính. Các triệu chứng dương tính bao gồm: hoang tưởng, ảo giác và kích động. Các triệu chứng âm tính thể hiện sự sa sút các mặt hoạt động tâm thần bao gồm: cảm xúc thờ ơ, bàng quan, mất ham thích, trí tuệ giảm, tư duy và ngôn ngữ nghèo nàn, các triệu chứng thu mình và cách ly xã hội.

Rối loạn thường khởi phát ở lứa tuổi từ 15 – 35, với tỷ lệ hiện mắc khoảng 0,3 – 1% dân số. Tỷ lệ bị bệnh ở nam và nữ là 1:1, tuy nhiên nữ thường có khởi phát muộn và tiên lưọng nhẹ hơn nam.

MỘT SỐ GIẢ THUYẾT VỀ NGUYÊN NHÂN

 

  1. Giả thuyết về di truyền

 

Các nghiên cứu về tỷ lệ mắc tâm thần phân liệt trong gia đình và ở những cặp sinh đôi đã khẳng định được vai trò của yếu tố di truyền trong căn bệnh của tâm thần phân liệt. Theo tác giả L.Gordon nếu trong gia đình cả 2 bố mẹ đều bị tâm thần phân liệt thì nguy cơ mắc rối loạn này ở con là 15 – 55%

Nghiên cứu ở những cặp sinh đôi cùng trứng cho thấy nếu người này bị tâm thần phân liệt thì nguy cơ bị tâm thần phân liệt ở ngưòi kia là 40 – 55%, trong khi đó tỷ lệ này ở những cặp sinh đôi khác trứng là 10 – 14%.

2. Sự biến đổi về cấu trúc và chức năng của não

Bằng các kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính (CTScan), cộng hưởng từ (MRI) não các nhà nghiên cứu  nhận thấy ở những bệnh nhân tâm thần phân liệt có hiện tượng tăng thể tích não thất bên, các rãnh não dãn rộng và teo não đặc biệt là ở vùng trán. Các cấu trúc ở vùng hệ thống viền như hồi cá ngựa, thể hạnh nhân cũng giảm thể tích.

Bằng phương pháp chụp cắt lớp phát xạ Positron (PET) và phát xạ photon đơn (SPECT) thấy có hiện tượng giảm hoạt thùy trán.

3. Giả thuyết về các chất dẫn truyền thần kinh

– Dopamin: sự tăng hoạt của dopamin ở vùng trung viền (mesolimbic) thường tạo ra các triệu chứng dương tính ở bệnh nhân tâm thần phân liệt, ngược lại sự giảm hoạt của dopamin ở vùng trán trước thường gây ra các triệu chứng âm tính. Hơn nữa, sự ra đời của các thuốc an thần kinh là những thuốc đối vận với dopamin và hiệu quả điều trị của nó trong tâm thần phân liệt đã chứng minh cho vai trò của dopamin.

Công thức hóa học của Dopamin

– Serotonin: Khi khảo sát nồng độ của serotonin trong dịch não tủy của bệnh nhân tâm thần phân liệt, các tác giả nhận thấy nồng độ của serotonin và các chất chuyển hóa của nó tăng ở những bệnh nhân tâm thần phân liệt mạn tính và giảm ở những bệnh nhân bị tâm thần phân liệt cấp tính.

– Ngoài ra còn có các chất khác có liên quan đến tâm thần phân liệt như GABA (Gama Amino Butyric Acid), MAO (Mono Amino Oxydase)…

4. Các giả thuyết khác

Thuyết nhiễm virus chậm, thuyết miễn dịch, các yếu tố về tâm lý xã hội…cũng tham gia vào vai trò bệnh sinh của tâm thần phân liệt.

BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

 

Theo bảng phân loại quốc tế ICD 10 (International Classification of Diseases 10th Edition) về các rối loạn tâm thần thì tâm thần phân liệt biểu hiện bằng các nhóm triệu chứng sau:

4.3.1.Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt, tư duy bị đánh cắp hoặc tư duy bị phát thanh.

4.3.2. Ý tưởng hoang tưởng bị chi phối hay bị động liên quan đến vận động thân thể hay các chi, hoặc với ý nghĩ, hành vi hoặc cảm giác nào đó hoặc tri giác hoang tưởng.

4.3.3. Ảo thanh với một hay nhiều giọng nói bình luận về hành vi của bệnh nhân hoặc nói chuyện với nhau, hay các loại ảo thanh khác với một hoặc nhiều giọng nói xuất phát từ một bộ phận nào đó của cơ thể.

4.3.4. Các loại hoang tưởng dai dẳng khác mà không thích hợp về mặt văn hóa, tôn giáo, chính trị hoặc những quyền lực siêu nhiên (ví dụ có thể điều khiển thời gian, thời tiết hoặc giao tiếp với người ngoài trái đất).

4.3.5. Ảo giác dai dẳng bất kỳ loại nào, kèm với những ý tưởng hoang tưởng thoáng qua hoặc vừa mới hình thành không chứa những sự kiện cảm xúc. Hoặc những ý tưởng quá dai dẳng hay ảo giác xuất hiện hằng ngày trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng liên tục.

4.3.6. Dòng tư duy bị gián đoạn hay bị biến đổi do thêm từ khi nói dẫn đến tư duy thiếu liên tục và ngoài lê hoặc bịa từ

4.3.7. Hành vi căng trương lực: Kích động, giữ nguyên dáng, uốn sáp, phủ định không nói hoặc sững sờ.

4.3.8. Những triệu chứng âm tính: vô cảm, ngôn ngữ nghèo nàn, cảm xúc cùn mòn hoặc đáp ứng cảm xúc không thích hợp (những triệu chứng này làm bệnh nhân không hòa nhập được với xã hội và làm biến đổi các chức năng xã hội). Những triệu chứng này phải rõ ràng là không do các thuốc an thần kinh hoặc do trầm cảm gây ra.

4.3.9. Những biến đổi toàn diện kéo dài và đáng kể một vài khía cạnh của hành vi biểu hiện bằng sự mất thích thú, hành vi không có mục đích, thái độ vị ngã và cách ly xã hội

ĐIỀU TRỊ

 

  1. Hoá liệu pháp : đây là liệu pháp quan trọng và có hiệu quả nhất trong điều trị tâm thần phân liệt. Thuốc điều trị chủ yếu là các thuốc an thần kinh hay còn gọi là các thuốc chống loạn thần.* Các thuốc an thần kinh điều hình như chlorpromazine (Aminazin), haloperidol có tác dụng với các triệu chứng dương tính (hoang tưởng, ảo giác, kích động) nhưng ít hoặc không có tác dụng lên các triệu chứng âm tính (tư duy nghèo nàn, cảm xúc cùn mòn, khô lạnh…) và thường gây ra nhiều tác dụng phụ ngoại tháp làm bệnh nhân thường bỏ thuốc và ít tuân thủ điều trị.* Các thuốc an thần kinh không điển hình (Risperidone, Olanzapin, Clozapin, quetiapine,…) có tác dụng với cả các triệu chứng dương tính và âm tính và ít tác dụng phụ ngoại pháp.

    * Điều trị chia làm 2 giai đoạn : Điều trị tấn công trong giai đoạn cấp của bệnh và điều trị duy trì khi bệnh đã thuyên giảm và tương đối ổn định.

    * Trong quá trình điều trị phải theo dõi các tác dụng phụ của thuốc, điều chỉnh liều lượng thuốc thích hợp cho từng bệnh nhân.

  2. Liệu pháp sốc điện hay liệu pháp gây co giật bằng điện (ECT: Electro Convulsive Therapy)Trong Tâm thần phân liệt ECT được chỉ định trong các trường hợp sau :- Tâm thần phân liệt thể căng trương lực.

    – Bệnh nhân có ý tưởng hoặc hành vi toan tự sát.

    – Các trường hợp không hoặc đáp ứng kém với thuốc hoăc chống chỉ định dùng thuốc.

  3. Liệu pháp tái thích ứng xã hội : liệu pháp này giúp cho bệnh nhân có thể trở lại cuộc sống bình thường tại cộng đồng, phục hồi lại các thói quen trong sinh hoạt, khôi phục lại khả năng lao động của người bệnh. Có nhiều hình thức tổ chức liệu pháp tái thích ứng xã hội như : tổ chức sinh hoạt giải trí, tổ chức lao động, học nghề…tuỳ theo tình trạng bệnh của bệnh nhân.
PHÒNG BỆNH

 

Nguyên nhân của tâm thần phân liệt cho đến nay vẫn còn chưa rõ, do đó việc phòng ngừa tâm thần phân liệt chỉ là hạn chế các yếu tố nguy cơ và phòng ngừa tái phát bệnh. Muốn như vậy, chúng ta cần chú trọng đến các yếu tố sau :

  1. Trong quá trình mang thai của người mẹ

– Thăm khám thai định kỳ, đảm bảo dinh dưỡng, giữ gìn sức khoẻ trong quá trình mang thai phòng ngừa các bệnh nhiễm virus, các bệnh nhiễm khuẩn qua đường tình dục.

– Tránh sử dụng rượu, thuốc lá trong thai kỳ, tránh các sang chấn tâm lý.

– Không nên sinh con khi bố, mẹ đều lớn tuổi.

– Phòng ngừa các sang chấn sản khoa xảy ra khi sinh.

     2. Trong quá trình phát triển

– Tạo một môi trường an toàn về tâm lý cho trẻ, không ngược đãi trẻ, tránh các sang chấn tâm lý.

– Giáo dục cho trẻ sống hoà đồng, biết cách thích ứng với những hoàn cảnh khỏ khăn, học tập các kỹ năng giải quyết tình huống trong cuộc sống…

     3. Phòng ngừa tái phát

– Giáo dục cho người nhà và bệnh nhân hiểu được tầm quan trong của việc uống thuốc đều, đảm bảo cung câp đầy đủ thuốc điều trị ngoại trú cho bệnh nhân.

– Hướng dẫn cho bệnh nhân và gia đình những dấu hiệu sớm của sự tái phát để được điều trị kịp thời.

– Thông tin cho gia đình về một số các tác dụng phụ thường gặp của thuốc và hướng xử trí để bệnh nhân không bỏ điều trị.

– Tuyên truyền cho cộng đồng hiểu về tâm thần phân liệt, tránh thái độ kỳ thị, xa lánh người bệnh.

– Giáo dục cho bệnh nhân tránh các sang chấn tâm lý, không sử dụng bia rượu và các chất kích thích khác.

– Tái phục hồi các chức năng nghề nghiệp xã hội cho người bệnh.

– Hỗ trợ tâm lý cho gia đình bệnh nhân và hướng dẫn cách chăm sóc bệnh nhân cho gia đình.

Thông Tin Tác Giả: Lê Thị Thanh

Trả lời